Thực trạng xuất khẩu lao động ở Việt Nam

0
867

Thực trạng xuất khẩu lao động ở Việt Nam
5 (100%) 2 votes

Trong thời kỳ mở cửa, hội nhập với nền kinh tế toàn cầu,Việt Nam đã xây dựng được nhiều mối quan hệ kinh tế quốc tế. Một trong những mối quan hệ kinh tế này là việc hợp tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, hay còn gọi là xuất khẩu lao động (XKLĐ). Hoạt động XKLĐ của Việt Nam đang ngày càng mở rộng đến nhiều quốc gia và các vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, đáp ứng một phần nhu cầu về nguồn lao động của các nước, với đủ các loại hình lao động khác nhau. Hoạt động này đã tạo cho người lao động Việt Nam nhiều cơ hội làm việc, tìm kiếm được nguồn thu nhập tốt hơn trong nước.

1. Số liệu hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam

Theo số liệu báo cáo từ các doanh nghiệp, tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài trong Quý I năm 2016 là 23.214 lao động (9.560 lao động nữ), gồm các thị trường: Đài Loan: 13.096 lao động (5.055 lao động nữ), Nhật Bản: 7.110 lao động (3.443 lao động nữ), Hàn Quốc: 275 lao động (13 lao động nữ), Malaysia: 1.259 lao động (706 lao động nữ), Ả rập – Xê út: 584 lao động (281 lao động nữ), Macao: 82 lao động (50 lao động nữ) và các thị trường khác.

Như vậy, Quý I năm 2016, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 23.214 lao động (9.560 lao động nữ) đạt 23,21% kế hoạch năm 2016 và bằng 90,10% so với cùng kỳ năm ngoái

thọng tin xuat khau lao dong

2. Một số khuyến nghị người chuẩn bị xuất khẩu lao động cần lưu tâm

Thứ nhất, với người lao động, cần triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức về pháp luật. Nên khuyến cáo rộng rãi đến người dân, khi có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài thì người lao động cần liên hệ trực tiếp với Cục Quản lý lao động ngoài nước và Sở Lao động – Thương binh và xã hội địa phương, các công ty có chức năng Xuất Khẩu Lao Động. Khi đã đăng ký để xuất khẩu lao động ở các doanh nghiệp có dấu hiệu trái pháp luật thì người lao động cần thông báo cho các cơ quan chức năng và  phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý những sai phạm đó.

Thứ hai, đối với việc thành lập các tổ chức hoạt động xuất khẩu lao động, phải có những quy định chặt chẽ hơn để hạn chế những đơn vị không có đủ điều kiện, không đúng chức năng. Việc thanh lọc các đơn vị này sẽ giúp hạn chế các hành vi tiêu cực. Các doanh nghiệp cần phải công bố thông tin một cách công khai, minh bạch về các điều kiện, thủ tục, tiêu chuẩn tuyển chọn, mức lương và nhất là chi phí xuất khẩu lao động đối với từng thị trường; chỉ đạo và quản lý chặt chẽ các chi nhánh, trung tâm hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.

Thứ ba, cơ quan có chức năng ở địa phương có các trụ sở của các doanh nghiệp dịch vụ xuất khẩu lao động phải tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động, diễn biến tình hình xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp này. Nắm bắt một cách kịp thời tình hình thực hiện pháp luật cũng như phát hiện sớm các sai phạm. Xử lý thích đáng đối với các trường hợp có dấu hiệu trái pháp luật. Trong nhiều trường hợp, khi sắp bị phát hiện sai phạm, hoặc đã thu tiền lừa đảo xuất khẩu lao động xong, các đơn vị xuất khẩu lao động lại chuyển qua địa bàn khác để hoạt động. Do vậy, các cơ quan chức năng ở các địa phương cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau để phát hiện.

 

 

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY